Siêu âm thường qui trong khám thai

Trong suốt thai kỳ, siêu âm được thực hiện nhằm đánh giá: Về phía thai: hình thái, sự phát triển, sức khỏe. Về phía nhau: vị trí, hình thái, cấu trúc. Lượng nước ối. Tử cung, buồng trứng, cấu trúc, các bệnh lý (u xơ, u nang…) hay dị tật bẩm sinh (vách ngăn trong lòng tử cung, tử cung hai sừng…) Hiện nay chưa có sự thống nhất về số lần siêu âm trong thai kỳ. Tuy nhiên, cần siêu âm ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ đối với những thai kỳ bình thường, mỗi tam cá nguyệt một lần.

SIÊU ÂM THƯỜNG QUI TRONG KHÁM THAI
(Nguồn: Thực hành sản phụ khoa – Nhà xuất bản Y học)
 
Trong suốt thai kỳ, siêu âm được thực hiện nhằm đánh giá:
  • Về phía thai: hình thái, sự phát triển, sức khỏe.
  • Về phía nhau: vị trí, hình thái, cấu trúc.
  • Lượng nước ối.
  • Tử cung, buồng trứng, cấu trúc, các bệnh lý (u xơ, u nang…) hay dị tật bẩm sinh (vách ngăn trong lòng tử cung, tử cung hai sừng…)
Hiện nay chưa có sự thống nhất về số lần siêu âm trong thai kỳ. Tuy nhiên, cần siêu âm ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ đối với những thai kỳ bình thường, mỗi tam cá nguyệt một lần.
  1.   SIÊU ÂM TRONG 3 THÁNG ĐẦU THAI KỲ:
  • Xác định có thai, số lượng thai.
  • Xác định chất lượng của trứng (sống hay chết, thai trứng).
  • Vị trí làm tổ của trứng: trong tử cung, ngoài tử cung, hay ở các vị trí đặc biệt: sừng của tử cung dị dạng, trong cơ (vết mổ lấy thai), cổ tử cung, đoạn kẽ ống dẫn trứng…
  • Ước tính tuổi thai dựa vào số đo của chiều dài đầu – mông (CRL).
  • Hình thể và cấu trúc tử cung và buồng trứng: sau thời gian này, sẽ rất khó đánh giá toàn diện vì tử cung dãn to, 2 phần phụ theo đó cũng thay đổi vị trí lên ổ bụng trên.
Xác định thai: hình ảnh túi thai có thể thấy được từ 4 - 4,5 tuần vô kinh qua siêu âm đường âm đạo, là một vòng tròn phản âm trống được viền bởi một lớp phản âm sáng nằm trong lớp màng rụng của nội mach tử cung, lệch một bên so với đường giữa lòng tử cung.
Xác định chất lượng của trứng: những dấu hiệu sau đây cho thấy thai có dự hậu xấu
  • Trứng trống.
  • Túi noãn hoàng có hình tròn không đều, bờ dày hoặc can-xi hóa, kích thước lớn hoặc quá nhỏ.
  • Túi thai móp méo hoặc có hình giọt nước; kích thước ≥ 25mm nhưng không có phôi thai. Tuy nhiên cần kiểm tra lại sau 7 ngày để có chẩn đoán chắc chắn.
  • Lớp màng rụng kém phát triển.
  • Xuất huyết quanh túi thai > 50%.
  • Kích thước túi thai quá lớn hoặc quá nhỏ so với phôi thai.
  • Túi thai nằm thấp trong buồng tử cung.
  • Thai ngừng phát triển: có thôi thai > 5mm nhưng không có hoạt động tim thai.
Vị trí làm ổ của trứng: bình thường trứng làm tổ ở trong lòng tử cung. Trong trường hợp thai ngoài tử cung có thể quan sát thấy:
  • Buồng trứng tử cung trống hoặc hình ảnh túi thai giả (nằm giữa lòng tử cung, không có hình ảnh double ring của túi thai)
  • Khối cạnh tử cung
  • Dịch ở cùng đồ sau
Số lượng thai: dễ dàng xác định khi có 2 túi thai hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên cần xác định khi thai được 10-12 tuần.
Xác định tuổi thai: siêu âm trong 3 tháng đầu thai kỳ là phương pháp chính xác nhất để xác định tuổi thai dựa vào chiều dài đầu – mông (CRL):
  • ở tuổi thai từ 7-10 tuần, sai số ± 3 ngày.
  • ở tuổi thai từ 10-14 tuần, sai số ± 5 ngày.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật, các thể hệ máy siêu âm sau này có độ phân giải cao, cho phép khảo sát sơ khởi hình thái học thai ngay từ cuối quí 1 thai kỳ (11 đến 13 tuần 6 ngày), góp phần nâng cao chất lượng chuẩn đoán tiền sản.
Siêu âm độ mờ da gáy:
  • Được thực hiện ở tuổi thai 11 đến 13 tuần 6 ngày (CRL từ 45-84mm).
  • Độ mờ da gáy được coi là tăng khi vượt trên bách phân vị thứ 95.
  • Người ta thấy có một mối liên hệ giữa bất thường của độ mờ da gáy với bất thường về nhiễm sắc thể hay bất thường về hình thái học của thai nhi. Đánh giá độ mờ da gáy giúp có thể định hướng các xét nghiệm chuyên biệt hơn như sinh thiết gai nhau, thực hiện nhiễm sắc thể đồ, hoặc siêu âm hình thái học sớm từ 16-18 tuần nhằm chẩn đoán dị tật bẩm sinh.
  1. SIÊU ÂM TRONG 3 THÁNG GIỮA THAI KỲ
  • Xác định tính sinh tồn
  • Phát hiện những bất thường hình thái của thai
  • Bắt đầu có thể đánh giá lượng nước ối, vị trí bánh nhau
  • Đánh giá sự phát triển của thai nhi
Thời điểm để khảo sát hình thái học của thai là từ 18-22 tuần. Tuy nhiên đối với các dị tật nhỏ thường chỉ quan sát được muộn hơn nên khoảng thời gian để có thể quan sát được hầu hết các dị tật thai là từ 20-22 tuần.
Đánh giá sự phát triển của thai nhi:
  • Đường kính lưỡng đỉnh (và/hoặc vòng đầu), vòng bụng, chiều dài xương đùi tăng hài hòa với nhau và với tuổi thai.
  • Đây là thời điểm cuối cùng có thể dùng các chỉ số đường kính lưỡng đỉnh và chiều dài xương đùi để chẩn đoán tuổi thai.
Đánh giá lượng nước ối: một số chú ý
  • Thiểu ối thường liên quan các bất thường hệ tiết niệu.
  • Đa ối thường liên quan các bất thường đường tiêu hóa.
  • Thai giới hạn tăng trưởng trong tử cung thường kèm theo thiểu ối.
Đánh giá bánh nhau
  • Vị trí.
  • Hình thái bánh nhau, độ dày bánh nhau: bánh nhau dầy trong bệnh lý tiểu đường, nhiễm trùng bào thai, bất sung nạp nhóm máu…
  • Cấu trúc bánh nhau giúp đánh giá độ trưởng thành, các tổn thương nhồi máu, huyết khối gian gai nhau, nhau bong nhon…
  • Vị trí bám của dây rốn, số lượng mạch máu, đôi khi tình cờ phát hiện nút thắt hoặc quấn dây rốn trong đa thai chung bọc ối.
  1. SIÊU ÂM TRONG 3 THÁNG CUỐI THAI KỲ
  • Đánh giá sự phát triển của thai nhi.
  • Phát hiện những bất thường xuất hiện trễ.
  • Xác định vị trí bánh nhau, những dấu hiệu suy giảm chức năng bánh nhau.
  • Xác định ngôi thai.
Thời điểm: tuổi thai 30-34 tuần.
Sự phát triển của thai nhi:
  • Đường kính lưỡng đỉnh tăng 2mm mỗi tuần vào tháng thứ 8 và 1mm mỗi tuần vào tháng thứ 9.
  • Đường kính ngang bụng tăng 3-7mm mỗi tuần từ tuần thứ 30.
Vị trí của bánh nhau: những trường hợp nghi ngờ có nhau bấm thấp (dựa vào lâm sàng hoặc siêu âm ở tam cá nguyệt 2) phải được khẳng định lại trên siêu âm từ tuần lễ thứ 32.
Đánh giá lượng nước ối:
  • Đa số sử sụng chỉ sô ối (AFI: Amnionic Fluid Index) để đánh giá lượng nước ối, trị số bình thường của AFI của AFI từ 8 đến 24 cm.
  • Một số tác giả đo độ sâu của khoang ối lớn nhất, trị số bình thường là từ 2 đến 8 cm.
  1. ỨNG DỤNG CỦA HIỆU ỨNG DOPPLER TRONG SIÊU ÂM SẢN KHOA
4.1 Khảo sát động mạch tử cung
  • Bình thường sau 26 tuần phổ Doppler không có chỗ khuyết (notch) tiền tâm trương, RI < 0,6.
  • Sau 26 tuần, nếu vẫn tồn tại chỗ khuyết, RI > 0,6 thì khả năng có bất thường trong quá tình xâm lấn của nguyên bào nuôi vào các động mạch xoắn ở cổ tử cung, Đây là yếu tố tiên lượng thai chậm phát triển trong tử cung.
  • Khảo sát dòng máu của động mạch tử cung ở tuổi thai 17-24 tuần hữu ích trong các trường hợp có tiền sử tiền ản giật, thai chậm phát triển trong tử cung, thai chết lưu hoặc thai kỳ có cao huyết áp. Nếu bất thường cần phải theo dõi tích cực sự phát triển của thai (sự tiến triển các số đo thai và trở kháng động mạch rốn, động mạch não giữa vào tam cá nguyệt thứ 3).
  • Không có bằng chứng cho thấy siêu âm khảo sát dong máu chảy các động mạch thường quy trong tam cá nguyệt giữa (như động mạch tử cung) có thể giúp dự báo và dự phòng tiền sản giật, thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Khảo sát này chỉ có giá trị trên dân số nguy cơ cao.
4.2 Khảo sát động mạch rốn
  • Bình thường kháng trở giảm dần về cuối thai kỳ.
  • Các chỉ số kháng trở cao quá giới hạn (trên bách phân vị thứ 95) có liên quan tăng nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung và thai chết lưu.
  • Đối với những thai kỳ nguy cơ thấp, người ta nhận thấy việc siêu âm Doppler một cách thường quy để khảo sát động mạch rốn ở thời điểm 28-34 tuần không làm thay đổi tần suất của những can thiệp sản khoa cũng như không có sự khác biệt về dự hậu đối với thai kỳ trong giai đoạn chu sinh.
4.3 Khảo sat động mạch não giữa
  • Bình thường trở kháng của động mạch não giữa ở thai nhi khá cao. Khi tình trạng thiếu oxy não rảy ra, tuần hoàn não thay đổi bằng cách giảm trở kháng để tăng dòng máu chảy trong tâm trương (sự tái phân bố tuần hoàn não).
  • Bình thường chỉ số trở kháng của động mạch não giữa luon căng hơn dộng mạch rốn (CRI/URI > 1,1). Gọi là tái phân bố tuần hoàn não khi CRI/URI < 1,1, chứng tỏ thai nhi dung nạp kém với tình trạng thiếu oxy. Giá trị tiên đoán dương thai kém phát triển trong trường hợp này là 94-100%.
  1. SIÊU ÂM KHẢO SÁT CỔ TƯ CUNG
Khảo sát dộ dài kênh tử cung được khuyến cáo thực hiện ở các đối tượng:
  • Thai phụ có triệu chứng (trằn bụng, có cơn co tử cung, ra máu âm đạo,..): giúp khẳng định sự cần thiết bắt đầu sử dụng thuốc giảm co.
  • Thai phụ nguy cơ cao sanh non: dị dạng tử cung, tiền căn sanh non, tiền căn sẩy thai muộn, tiền căn phẩu thuật cổ tử cung.
  • Khảo sát cổ tử cung ở thai kỳ song thai còn được bàn cãi. Không có chứng cứ cho thấy khảo sát có giái trị sau 34 tuần vô kinh. Đối với thai phụ không có nguy cơ liên quan sanh non, khảo sát này cũng không được chỉ định.
 
 
 
 
 
 
 
 
 

các bài viết khác